Bát Nhã

Bát Nhã Tâm Kinh

Thầy Thích Trí Thoát · Hán-Việt · 3 phút

Nguồn chữ: Tụng Kinh

  1. Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh
  2. Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách.
  3. Xá Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức diệc phục như thị.
  4. Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.
  5. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức, vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới.
  6. Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận. Vô khổ, tập, diệt, đạo. Vô trí diệc vô đắc.
  7. Dĩ vô sở đắc cố, Bồ Đề Tát Đỏa y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố, tâm vô quái ngại.
  8. Vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn.
  9. Tam thế chư Phật, y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.
  10. Cố tri Bát Nhã Ba La Mật Đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chân thật bất hư.
  11. Cố thuyết Bát Nhã Ba La Mật Đa chú, tức thuyết chú viết:
  12. Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.

Kinh từ đâu ra

Bát Nhã Tâm Kinh là bản cô đọng nhất của bộ Đại Bát Nhã, một tạng kinh đồ sộ gồm sáu trăm quyển. Người ta hay gọi đây là "trái tim" của cả bộ kinh ấy, vì chỉ với chưa đầy ba trăm chữ Hán mà gói trọn cốt lõi giáo lý về tánh Không. Bản Hán được nhiều vị cao tăng dịch từ tiếng Phạn qua các thời kỳ khác nhau, trong đó bản của ngài Huyền Trang đời Đường là bản lưu truyền rộng nhất ở Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản và Hàn Quốc. Bản Hán-Việt phiên âm trên trang này giữ đúng lối đọc quen thuộc mà phần lớn Phật tử đã thuộc nằm lòng.

Cốt lõi bài kinh

Toàn bộ kinh xoay quanh một câu duy nhất: "sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc". Mọi hiện tượng — thân xác, cảm thọ, suy nghĩ — đều do nhân duyên hợp thành, sinh diệt liên tục, không có một cái "ngã" cố định nào để bám giữ. Nhìn thấu được điều đó, tâm bớt sợ hãi, bớt chấp chặt, dần buông được những vọng tưởng điên đảo vẫn quấy rầy hằng ngày. Đây không phải một câu triết lý để tụng cho có, mà là một cách nhìn giúp người tu nhẹ bớt khổ vì bớt bám vào những thứ vốn dĩ đang đổi thay từng phút.

Tụng khi nào và tụng ở nhà ra sao

Bát Nhã Tâm Kinh gần như có mặt trong mọi thời khóa của Phật giáo Bắc tông — sáng, tối, cầu an, cầu siêu, hay bất cứ khi nào tụng riêng một bộ kinh khác. Theo thói quen phổ biến ở nhiều chùa, sau khi tụng xong phần chính của thời kinh, người ta khép lại bằng Tâm Kinh trước khi hồi hướng. Cũng vì ngắn và dễ thuộc, đây thường là bài kinh đầu tiên người mới học tụng niệm được dạy.

Ở nhà, kinh chỉ mất khoảng năm phút nên rất hợp để tụng mỗi tối dù bận rộn. Trước khi tụng nên thắp hương, chắp tay khai kinh, giữ lưng thẳng, đọc rõ ràng và chậm rãi hơn là đọc nhanh cho xong việc. Tụng xong dành vài phút hồi hướng công đức, nguyện cho mình và người thân được an lành, tâm sáng. Người mới có thể đọc chậm để quen mặt chữ trước, sau đó tăng dần theo nhịp khi tụng cùng đại chúng.

Về bản kinh trên trang

Bản trên trang là bản Hán-Việt phiên âm, giữ nguyên lối đọc cổ điển vẫn dùng trong các thời khóa hiện nay. Với người chưa quen chữ Hán-Việt, nên tìm thêm bản dịch nghĩa thuần Việt để hiểu rõ từng câu trước khi tụng, vì phiên âm chỉ giúp đọc đúng âm chứ không giải thích nghĩa.